an toàn sinh học trong chăn nuôi
#thiên_nhiên_và_cuộc_sống #nôngnghiệpKỹ sư: Trương Thị Cẩm Tiên hướng dẫn kỹ thuật trong chăn nuôi an toàn sinh học, mời bà con cùng tham khảo.-----
Khái niệm về An toàn sinh học và An toàn sinh học trong chăn nuôi gia cầm thương mại quy mô nhỏ An toàn sinh học là việc thực hiện các biện pháp tổng hợp nhằm làm hạn chế tối đa nguy cơ lây nhiễm và phát tán mầm bệnh cho gia cầm nuôi.
Chăn nuôi trên nền đệm lót sinh học là một hình thức nuôi nhốt gia súc, gia cầm trên một nền đệm lót được làm bằng nguyên liệu có độ trơ cao (không bị nước làm nhũn nát như: trấu, mùn cưa, phoi bào, rơm, rạ….) trộn với một hệ
Chương trình an toàn sinh học (ATSH) là các quy trình quản lý ở trại/hộ chăn nuôi (gọi chung là trại); được thiết kế để ngăn chặn lan truyền bệnh từ thú bệnh sang thú khoẻ, tránh gây hại cho con người và hệ sinh thái. Một kế hoạch thực hiện ATSH cần diễn giải tất cả công việc ở trại nhằm giảm đến mức tối thiểu nguy cơ xâm nhập tác nhân gây bệnh mới vào trại cũng như hạn
Tài liệu An toàn sinh học trong chăn nuôi. Bài 1: Mở đầu I. Khái niệm an toàn sinh học trong chăn nuôi - An toàn sinh học đối với các cơ sở chăn nuôi là việc thực hiện đồng bộ các biện pháp vệ sinh thú y nhằm ngăn chặn mầm bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào các cơ sở chăn
contoh adanya modernisasi bidang pertanian untuk menentukan masa tanam adalah. QUẢNG NINH Sau 2 năm triển khai, dự án hỗ trợ phát triển chăn nuôi lợn sinh sản an toàn sinh học tại xã Cộng Hòa, TP Cẩm Phả Quảng Ninh đã cho kết quả tích cực. Xã Cộng Hòa, TP Cẩm Phả là địa phương thuộc Chương trình Mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, tỷ lệ người đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 40%, điều kiện phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp. Năm 2021, Trung tâm Khuyến nông Quảng Ninh phối hợp với Công ty TNHH Điện lực AES Mông Dương tiến hành khảo sát nhu cầu, khảo sát thực địa, tìm hiểu chủ trương, định hướng, quy hoạch chăn nuôi của tỉnh và các địa phương trong tỉnh, qua đó đề xuất và phê duyệt Dự án “Hỗ trợ phát triển chăn nuôi lợn sinh sản an toàn sinh học tại thôn Hà Tranh, xã Cộng Hòa, TP Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”. Người dân tham gia dự án vui mừng khi được nhận lợn giống để chăn nuôi theo phương pháp an toàn sinh học. Ảnh Nguyễn Thành. Giai đoạn đầu của Dự án bắt đầu triển khai vào năm 2021 với 16 hộ chăn nuôi. Dự án đã cung cấp lợn giống cho những hộ dân có đàn lợn bị ảnh hưởng bởi dịch tả lợn châu Phi và phối hợp với các chuyên gia nông nghiệp, thú y để giám sát sự phát triển, tăng trưởng của đàn lợn. Tính đến cuối năm 2022, đàn lợn sinh trưởng và phát triển tốt, đã có tổng cộng hơn 300 con lợn con được sinh sản theo chương trình của Dự án. Việc sử dụng khí gas từ bể biogas phục vụ đun nấu và thắp sáng đã giúp các hộ gia đình tham gia Dự án tiết kiệm từ - đồng/tháng. Tính chung 16 hộ tham gia Dự án tiết kiệm tiền mua gas phục vụ sinh hoạt gia đình mỗi năm từ 48 - 60 triệu đồng. Sau 2 năm thực hiện, Dự án đã hỗ trợ phát triển nghề chăn nuôi lợn sinh sản an toàn sinh học nhằm nâng cao năng suất, khả năng sinh sản, tăng trọng, thời gian nuôi ngắn, thích nghi cao với điều kiện chăn nuôi trong nông hộ. Bên cạnh đó, Dự án đã tạo việc làm, nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ tham gia, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cải thiện vệ sinh môi trường trong chăn nuôi quy mô hộ gia đình và nâng cao kiến thức chăn nuôi lợn sinh sản an toàn sinh học cho người chăn nuôi. Ngoài ra, Trung tâm Khuyến nông tỉnh Quảng Ninh cũng đã phối hợp với Hội Nông dân xã Cộng Hòa TP Cẩm Phả hướng dẫn các hộ tham gia thành lập Chi hội Chăn nuôi xã Cộng Hòa. Đây là chi hội nông dân nghề nghiệp thuộc Hội Nông dân xã với nòng cốt ban đầu là 16 hộ dân tham gia Dự án. Chi hội được thành lập sẽ giúp các thành viên trao đổi, chia sẻ các thông tin về thị trường, giá cả, thiết bị, vật tư trong chăn nuôi; chia sẻ kinh nghiệm trong tổ chức sản xuất, phòng chống dịch bệnh có hiệu quả. Đồng thời, phát huy sáng kiến, ý tưởng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất chăn nuôi lợn.
HNM - Chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học không chỉ kiểm soát được dịch bệnh, bảo vệ đàn vật nuôi, mang lại lợi ích cho người chăn nuôi mà còn góp phần bảo đảm mục tiêu tăng trưởng của ngành Nông nghiệp Thủ đô năm 2020 đạt hơn 4,2%. Tuy nhiên, để phát triển chăn nuôi an toàn sinh học một cách bền vững thì cần hướng tới việc xây dựng vùng chăn nuôi an toàn theo hướng tập trung, quy mô lớn. Phát triển chăn nuôi an toàn sinh học góp phần mang lại lợi ích bền vững cho người chăn nuôi. Ảnh Cao Thắng Lợi ích đã rõ nhưng chưa thể nhân rộng Chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học là áp dụng các biện pháp kỹ thuật và quản lý nhằm ngăn ngừa và hạn chế sự lây nhiễm của các tác nhân gây bệnh có khả năng gây hại đến con người, gia súc, gia cầm và môi trường nuôi. Theo thống kê của Sở NN&PTNT Hà Nội, toàn thành phố hiện có hơn 100 trang trại, doanh nghiệp triển khai theo hướng này; mỗi năm cung cấp cho thị trường hàng nghìn tấn thịt lợn, hàng trăm nghìn tấn thịt gà an toàn. Bà Cấn Thị Quy, chủ trang trại chăn nuôi gia cầm ở xã Tích Giang huyện Phúc Thọ chia sẻ "Từ khi áp dụng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, dịch bệnh đã không xảy ra với đàn gà trong đó có hơn con gà thương phẩm tại trang trại của tôi. Mỗi năm, trang trại bán hơn 60 tấn thịt gà cho các cửa hàng tiện ích, siêu thị trên địa bàn thành phố... Số còn lại, thương lái thu mua với giá ổn định, đồng/kg". Còn ông Nguyễn Hồng Nhiên ở xã Xuân Nộn huyện Đông Anh cho biết, với quy mô 200 con lợn nái và con lợn thương phẩm, trung bình mỗi tháng trang trại của gia đình ông xuất bán 200 con lợn thịt ra thị trường và con lợn giống cho các hộ dân trên địa bàn. “Trong thời điểm bùng phát bệnh Dịch tả lợn châu Phi, trang trại của gia đình tôi chăn nuôi theo mô hình an toàn sinh học nên không bị tác động, mọi hoạt động sản xuất vẫn diễn ra bình thường”, ông Nguyễn Hồng Nhiên nói. Đánh giá về mô hình chăn nuôi an toàn sinh học, Phó Giám đốc Trung tâm Phát triển nông nghiệp Hà Nội Hà Tiến Nghi cho rằng, áp dụng mô hình này giúp kiểm soát được dịch bệnh, tạo ra sản phẩm chất lượng cao, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, chất thải chăn nuôi cũng được xử lý hiệu quả hơn thông qua chế phẩm sinh học, góp phần bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, ông Hà Tiến Nghi thừa nhận một thực tế là, chăn nuôi an toàn sinh học ở Hà Nội chưa mang lại kết quả như mong muốn. Bởi, chăn nuôi nông hộ vẫn manh mún, nhỏ lẻ nên mới triển khai ở dạng các mô hình, chưa thể nhân rộng, phát triển quy mô lớn. Trong khi đó, người chăn nuôi vẫn nếp làm việc theo thói quen, kinh nghiệm đã có nên không tích cực tiếp cận, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, khi bị “khép” vào những quy trình, quy định bắt buộc thì tỏ ra lúng túng... Bên cạnh đó, việc đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học đòi hỏi vốn đầu tư khá lớn, từ xây dựng chuồng trại khép kín đến khu xử lý môi trường... Đồng thời, việc tham gia vào chuỗi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm còn nhiều hạn chế ảnh hưởng đến giá cả, tiêu thụ sản phẩm làm ra… Điều này gây khó khăn cho việc nhân rộng, mô hình chăn nuôi an toàn sinh học trên địa bàn thành phố Hà Nội. Xây dựng những vùng chăn nuôi an toàn Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân vay vốn xây dựng chuồng trại đồng bộ, khép kín sẽ góp phần phát triển chăn nuôi an toàn. Ảnh Sơn Hà Thực tế cho thấy, Hà Nội là một thị trường tiêu thụ thực phẩm lớn nên dư địa cho phát triển chăn nuôi theo mô hình an toàn sinh học còn rất lớn. Việc quan trọng là các địa phương cần xác định lợi thế để có định hướng phát triển phù hợp, tránh làm ồ ạt. Theo Trưởng phòng Kinh tế huyện Thạch Thất Hoàng Chí Lượng, có hai việc được huyện đặc biệt quan tâm trong thời gian tới là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân vay vốn xây dựng chuồng trại đồng bộ, khép kín; thúc đẩy xây dựng thương hiệu sản phẩm chăn nuôi an toàn để nâng cao giá trị sản phẩm. Còn dưới góc độ người chăn nuôi, ông Nguyễn Văn Hưng, chủ trang trại chăn nuôi an toàn sinh học ở xã Vân Tảo huyện Thường Tín kiến nghị, các cấp, ngành liên quan cần có chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi; tạo điều kiện cho nông dân đưa tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào phát triển chăn nuôi cũng như tham gia chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm theo hướng an toàn, bền vững. Ở góc nhìn tổng thể hơn, Phó Cục trưởng Cục Chăn nuôi Bộ NN&PTNT Nguyễn Văn Trọng cho rằng, trong điều kiện dịch bệnh gia súc, gia cầm vẫn phức tạp, Hà Nội cần thực hiện tốt việc quản lý chăn nuôi. Tiếp đến là thúc đẩy tái cơ cấu ngành chăn nuôi; loại bỏ chăn nuôi nhỏ lẻ trong khu dân cư, từng bước xây dựng các vùng chăn nuôi theo hướng tập trung, có khả năng bảo đảm các quy trình kỹ thuật, vệ sinh thú y... Về vấn đề này, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Nguyễn Huy Đăng thông tin Nhằm hạn chế phát sinh mầm bệnh và kiểm soát chất lượng sản phẩm, ngành Nông nghiệp Hà Nội tiếp tục phối hợp với các địa phương đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở chăn nuôi lợn, gia cầm an toàn sinh học, phấn đấu đến cuối năm nay có thêm 10-15 cơ sở chăn nuôi theo hướng này. Đặc biệt, thành phố sẽ từng bước hình thành vùng chăn nuôi an toàn tập trung, quy mô lớn để kiểm soát tốt dịch bệnh, tạo điều kiện phát triển đàn gia súc, gia cầm một cách bền vững. Thúc đẩy phát triển chăn nuôi theo hướng an toàn sinh học không chỉ góp phần tăng trưởng ngành Nông nghiệp đạt mục tiêu hơn 4,2% trong năm 2020, mà còn phù hợp với xu thế phát triển của chăn nuôi hiện đại; đồng thời mang lại lợi ích cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Một trang trại nuôi tôm an toàn sinh họcAn toàn sinh học là điều kiện tiên quyết đóng vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động NTTS; để thực hiện hiệu quả điều này đòi hỏi phải kết hợp rất nhiều yếu tố, biện niệm và vai tròAn toàn sinh học ATSH có thể được định nghĩa là Các biện pháp và phương pháp được áp dụng để đảm bảo môi trường nuôi không bị bệnh cho tất cả các giai đoạn của hoạt động NTTS tức là các trại sản xuất giống, vườn ươm, trang trại chăn nuôi để tăng khả năng sinh lời. Các quy trình ATSH được đưa ra để duy trì “độ an toàn” của cơ sở chăn nuôi ngăn chặn xâm nhập hoặc giảm hoàn toàn số lượng trước khi xâm nhập đối với một số sinh vật gây bệnh ký sinh trùng, vi khuẩn, virus và nấm những loại không được phép hiện diện trong một hệ thống đặc biệt. ATSH bao gồm việc tuân thủ các quy tắc quản lý chặt chẽ để ngăn chặn các mầm bệnh đặc trưng xâm nhập vào hệ thống hoặc giảm số lượng mầm bệnh; để ngăn ngừa các động vật không bị nhiễm bệnh, tránh khỏi sự tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh hoặc ký sinh trùng; kiểm dịch, vệ sinh và khử trùng là tất cả các yếu tố quan trọng của thức dịch bệnh do virus, vi khuẩn, nấm và độc tảo hiện diện một mối đe dọa chính cho lợi nhuận của sản xuất thủy sản. ATSH, nói cách khác là giảm số lượng sinh vật nhiễm khuẩn trong môi trường nuôi, hình thức bảo vệ là hiệu quả nhất. Đây cũng là một tập hợp các thực hành quản lý, điều này làm giảm khả năng cho việc dẫn dắt và lây lan dịch bệnh do sinh vật gây ra lên trên và giữa các địa điểm chăn nuôi. Các thủ tục ATSH, đặc biệt biện pháp khử trùng và biện pháp cải thiện điều kiện vệ sinh, nên được kết hợp với sự lựa chọn các hạt giống không nhiễm bệnh và chiến lược điều trị hoặc là loại trừ hoặc giảm các mầm bệnh đến cấp độ vô phápCác biện pháp an toàn sinh học trong trong những thách thức mà người nuôi phải đối mặt là làm cho tất cả các giai đoạn sống của các sinh vật phù hợp với điều kiện vệ sinh và ATSH, đây là điều cần thiết trong việc chống và ngăn ngừa dịch bệnh. Việc thực hiện chủ yếu của bất kỳ biện pháp ATSH nào luôn được tiến hành trong các trại ương giống và ở các ao đang phát triển. Một chương trình ATSH hoàn chỉnh đối với một trang trại NTTS có thể kết hợp như sau Phòng ngừa bệnh; Theo dõi bệnh; Quản lý dịch bệnh; Vệ sinh và khử trùng giữa các vụ nuôi; Các đề phòng an toàn biện pháp an toàn sinh học phổ biếnVệ sinh bao gồm việc tẩy rửa và khử trùng các trại sản xuất giống, bể chứa, ao, dụng cụ xử lý và tiêm chủng… Cần phải làm sạch trước khi khử trùng. Thuốc khử trùng bao gồm Chlorine, hơi nóng, hơi nước, formalin và các hợp chất hóa học khác. Tất cả các chất khử trùng hóa học rất độc hại vì vậy tất cả thiết bị phải được rửa kỹ sau khi khử định tất cả các vật chủ trung gian truyền bệnh từ nơi này sang nơi khác. Hạn chế người và thiết bị giao thông có thể giúp làm giảm nguy cơ lây truyền bệnh từ cơ sở này sang cơ sở khác. Bất cứ ai làm việc nhiều ao nuôi phải rửa tay, chân và bàn chân bằng các dung dịch khử trùng thích hợp, sau khi xử lý thiết bị hoặc động vật và trước khi chuyển sang làm việc trên ao kế tiếp. Các dòng truyền bệnh khác bao gồm cua, loài gặm nhấm, chim hoang dã… có thể gây ô nhiễm nước trong ao. Các vật chủ này nên được kiểm soát hoàn toàn trong vùng lân cận các hoạt động NTTS. Không chia sẻ thiết bị giữa ao, trừ khi cần thiết; trong những trường hợp này, khử trùng tất cả các thiết bị trước khi được tái sử dụng. Sự lây truyền bệnh dọc từ bố mẹ sang con có thể được ngăn ngừa bằng cách sử dụng các bố mẹ khỏe mạnh, không bệnh. Sự khử trùng trứng với Iodine hoặc các giải pháp khác tại thời điểm các nước xơ cứng trứng có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh của trứng và ấu lý nước Các phương pháp xử lý nguồn nước ra vào hoặc tuần hoàn nước làm giảm nguy cơ gây bệnh cho sinh vật đang xâm nhập vào hệ thống nuôi. Phương pháp xử lý bao gồm lọc cơ học, ánh sáng tia cực tím UV và ozon. Xử lý nước thải từ cơ sở vật chất của NTTS và nhà máy chế biến làm giảm sự phát tán vi sinh vật vào môi trường. Điều này rất quan trọng, bởi vì đã xảy ra vấn đề này trong quá khứ với việc dịch bệnh đã xâm nhập lại vào cơ sở nuôi từ nước thải của một nhà máy chế biến; nước nhiễm khuẩn từ các nhà máy đã thoát ra và sau đó được đưa vào hệ thống dõi bệnh là một phần thiết yếu của bất kỳ chương trình ATSH nào. Biện pháp này bao gồm công việc đánh giá sức khỏe theo lịch định kỳ của tất cả các đàn giống thả nuôi ở một cơ sở NTTS. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể, công việc này có thể bao gồm lấy mẫu gây chết hoặc không gây chết hoặc cả hai. Việc đánh giá sức khỏe ban đầu hoặc trước khi mua một đàn giống sẽ xác minh thông tin ban đầu về vật nuôi và có thể cung cấp thông tin quan trọng nếu một loại bệnh xuất hiện ở trang trại/cơ sở. Theo dõi định kỳ cũng có thể giúp xác định được số lượng cá thể trong quần thể bị nhiễm bệnh và mức độ hoặc cường độ nhiễm bệnh trong phạm vi quần thể ăn sạch Điều quan trọng là sử dụng thức ăn sạch sẽ, thức ăn tươi. Xử lý và lưu trữ thức ăn đúng cách có thể làm giảm loại thức ăn mang mầm bệnh cho các sinh lý sinh vật chết Xử lý thích hợp tỷ lệ tử vong bằng cách đốt, chôn cất, hoặc ủ sẽ làm giảm nguy cơ tái sinh bệnh. Cũng rất quan trọng để loại bỏ cá chết từ những hồ chứa hoặc mương để giảm khả năng lây thủ các nguyên tắc về ATSH và quản lý chăn nuôi tốt sẽ ngăn chặn được nhiều dịch bệnh bùng phát. Tuy nhiên, các vấn đề dẫn đến bệnh sẽ nảy sinh ngay cả trong các hệ thống được quản lý tốt nhất và cách tiếp cận có khoa học và có phương pháp sẽ giúp xác định cách thức hoạt động tốt nhất, giảm tổn thất, giúp hệ thống và ngành nuôi trở lại bình thường. Lưu giữ tài liệu là một biện pháp quan trọng trong cách tiếp cận này. Điểm then chốt để ngăn ngừa bệnh tật và giảm tổn thất là phát hiện sớm bất kỳ sự bất thường nào trong hệ thống hoặc ngành nuôi. Việc phát hiện sớm dựa vào việc giám sát hàng ngày về chất lượng nước, kiểm tra hệ thống thông thường và quan sát biểu hiện của tôm cá, hình dạng bên ngoài và tỷ lệ chết. Chất lượng nước tối ưu cần được xác định cho các loài đang được giữ cố định vì nó có thể thay đổi giữa các loài, giai đoạn sống hoặc hệ Theo VINAFISVui lòng ghi rõ nguồn khi sao chép bài viết hệ cung cấp thông tin và gửi tin bài cộng tác về email [email protected].Nhấn nút "quan tâm" nếu bạn muốn nhận thông tin cập nhật từ chúng tôi trên Zalo.
an toàn sinh học trong chăn nuôi